HƯỚNG DẪN THỰC TẬP NGHỀ NGHIỆP Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại. 1. Mục tiêu (1) Giúp sinh viên có thể nắm được quy trình, kỹ năng tổ chức một hoạt động/vị trí công việc gắn với lĩnh vực kinh doanh thương mại trong thực tế. (2) Giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng mềm (xử lý các tình huống giao tiếp) để
Điểm chuẩn Đại Học Tài chính Quản trị kinh doanh với mã trường là ( DFA) đã chính thức được công bố với 7 ngành nghề đào tạo hệ đại học chính quy năm 2022. Cao Đẳng Nấu Ăn Hà Nội Xét Học Bạ 2022. Điểm Chuẩn Trường Đại Học Tài Chính Quản Trị Kinh Doanh 2021
Kinh doanh Thổ Nhĩ Kỳ ủng hộ đề xuất lập trung tâm khí đốt quốc tế của Nga 14/10/2022 - 21:12 . Kinh doanh Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Điện thoại: (024) 39411349 - (024) 39411348
Hiểu một cách nôm na, Quản trị Kinh doanh là quá trình quản trị các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc công ty. Người học Quản trị Kinh doanh được đào tạo để trở thành các nhà quản trị trong tương lai, do đó người học có nhiều kiến thức về các hoạt động
Với hi vọng hỗ trợ các em học sinh lớp 10 ôn tập, vận dụng kiến thức trong SGK, HỌC247 xin giới thiệu bộ Trắc nghiệm Giáo dục kinh tế và pháp luật 10 Kết Nối Tri Thức. Bộ câu hỏi được biên soạn và tổng hợp bám sát nội dung của từng bài, giúp các em có thể vừa ôn tập vừa nâng cao kiến thức và đạt
Fast Money. Mô tả công việc nhân viên Hành chính Nhân sự Nhân viên hành chính nhân sự là người cộng tác và hỗ trợ đắc lực đằng sau các bộ phận khác trong công ty. Trách nhiệm chính của họ là tập trung hỗ trợ quản lý nhân sự hoàn thành tốt các công việc liên quan đến nhân sự trong công ty. Làm hành chính nhân sự khá vất vả, đòi hỏi bạn phải đa chức năng... Cách tính điểm hòa vốn trong kinh doanh Điểm hòa vốn là gì? Điểm hoà vốn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực kinh doanh và tài chính. Phân tích điểm hòa vốn là một công cụ hữu ích đối với các lãnh đạo doanh nghiệp để đưa ra quyết định trong hoạt động kinh doanh như Lựa chọn sản xuất sản phẩm, xác định mức sản lượng cần tiêu thụ, lựa chọn ... Học Mini MBA ở đâu tốt và chất lượng Bên cạnh việc chinh phục bằng MBA thì chứng chỉ Mini MBA là một lựa chọn mới của nhiều học viên. Vậy Mini MBA là gì và chúng ta có nên học Mini MBA để thay thế cho bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh không? sẽ giúp bạn trả lời trong bài viết này. Mini MBA là gì? Mini MBA là một chương trìn... Kỹ năng cần có của Trưởng phòng kinh doanh Đã, đang và luôn phấn đấu để trở thành một Trưởng phòng kinh doanh, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ những Kỹ năng cần có của Trưởng phòng kinh doanh và đủ để tự tin nắm giữ cương vị đó cũng như thăng tiến xa hơn trong sự nghiệp. Đặc biệt là để trở thành một TPKD đẳng cấp thì điều kiện CẦN và ĐỦ là ... Vai trò và Nhiệm vụ của Giám đốc kinh doanh Theo xu hướng kinh doanh hiện đại ngày nay, cụm từ giám đốc bán hàng hay giám đốc kinh doanh trở nên hết sức quen thuộc, tuy nhiên trên thực tế rất khó tìm được một định nghĩa chính xác về vai trò và trách nhiệm của một giám đốc kinh doanh, họ là một quản lý bán hàng ngoài thị trường Field Sales Ma... 5 đặc điểm tạo nên sức hút của người ít nói Mọi người thường nghĩ người ít nói là những người nhút nhát và có vẻ xa cách, nhưng họ lại là những người hấp dẫn và quyến rũ nhất. 1. Những người ít nói lại có khả năng giao tiếp rất tốt. Trong cuộc sống hằng ngày, không hẳn cứ phải là người nói nhiều, nói khéo mới là là những người có khả năng g... 11 đặc điểm của một Doanh nhân thành công 1. Khả năng duy trì thái độ tích cực Khi điều hành doanh nghiệp, điều quan trọng mà bạn cần là một thái độ tích cực. Cách bạn ứng phó trước những thách thức và khó khăn sẽ phản ánh cách bạn kinh doanh. Điều này cũng ảnh hưởng đến cách nhân viên nhìn nhận bạn. Nếu bạn thu mình lại ngay khi gặp thất... 4 Phong cách lãnh đạo phổ biến trong Doanh nghiệp Phong cách lãnh đạo chính là toàn bộ các nguyên tắc hay những phương pháp kết hợp cùng sự thể hiện của của nhà lãnh đạo trong công việc như thực hiện các nhiệm vụ, giám sát,... nhằm mục đích đạt được những kết quả đã đề ra khi quản lý. Đây cũng chính là cách thức tiếp cận của một nhà lãnh đạo trong ... Mô tả công việc Giám đốc điều hành CEO Trong bài viết này chúng tôi xin chia sẻ 3 nội dung Mô tả công việc Giám đốc điều hành; 4 kiểu CEO - Giám đốc điều hành và Tiêu chuẩn công việc Giám đốc điều hành. Giám đốc điều hành tiếng Anh là Chief executive officer viết tắt CEO, là người thay mặt hội đồng quản trị, chịu trách nhiệm hoạt đ... KPI cho Giám đốc kinh doanh – 8 chỉ số quan trọng cần đo lường Giám đốc kinh doanh liên quan trực tiếp đến lợi nhuận và sự phát triển của công ty. Chính vì vậy, việc xây dựng một mẫu KPI cho vị trí Giám đốc kinh doanh là điều cần thiết cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. KPI cho Giám đốc kinh doanh bao gồm Là một Giám đốc kinh doanh, bạn sẽ phải đạt đ... 5 bài học quan trọng khi kinh doanh nhà hàng Những ngày hậu dịch, tôi loanh quanh nhiều nơi thấy hàng quán, cửa hàng đóng cửa nhiều vô kể. Lòng tự nhiên trỗi dậy cảm giác những ngày thất bại. Thời điểm bị cả cuộc đời lẫn thương trường dắt tay nhảy múa hành cho sấp mặt. Viết vội viết vàng ra mấy dòng suy nghĩ, biết đâu giúp được người cần. C... Nguyên nhân khiến các cuộc họp không hiệu quả Một nguyên nhân chính khiến các cuộc họp không đạt hiệu quả là do mục tiêu mơ hồ. Mọi người không chắc vì sao họ cần tổ chức hội họp và nhằm mục đích gì. Họ cũng không có nội dung chương trình bằng văn bản, hoặc các hạng mục trong nội dung không rõ ràng. Đây là lý do tại sao bạn nên thông báo mục đí... 5 YẾU TỐ VÔ CÙNG QUAN TRỌNG TRÊN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CÁ NHÂN 1. Khát vọng. Sự khác biệt đầu tiên giữa một kẻ tầm thường với một nhân vật vĩ đại nằm ở khát vọng của họ. Đã là con người thì bất kể một hành động nào đều phải có mục tiêu rồi mới hành động, không thể cứ bừa bãi được. Và nếu bạn đã có khát vọng của riêng mình thì bạn đã chiến thắng được 60% trong ... 8 NGUYÊN TẮC TỒN TẠI XÃ HỘI CHẲNG AI BẬT MÍ CHO BẠN 1. Không phải chuyện gì bạn nói người khác cũng hiểu và ngược lại. Sự thật là không phải lúc nào bạn muốn tâm sự thì cũng có người sẵn sàng muốn nghe bạn nói. Ai cũng có "vấn đề" của riêng mình. Hãy bớt than vãn, phàn nàn, việc của bạn là hãy tự mình giải quyết những rắc rối của bản thân. 2. Trải ... Tổng giám đốc điều hành là gì? Vai trò, Nhiệm vụ, Kỹ năng cần có Tổng giám đốc điều hành là gì? Tổng giám đốc điều hành là gì? Tổng giám đốc điều hành Chief Executive Officer - CEO là vị trí lãnh đạo cao nhất trong một tổ chức hoặc doanh nghiệp. Vị trí này thường được ủy thác với trách nhiệm quản lý toàn diện các hoạt động của tổ chức, bao gồm kế hoạch chiến ... 9 Thứ giàu có không mua được, muốn có phải do chính mình Sự giàu có giúp người ta có cuộc sống thoải mái, tự do hơn về tài chính. Sức mạnh của đồng tiền rất lớn, nó là công cụ giúp con người trao đổi, mua bán được rất nhiều thứ tuy nhiên lại không phải là tất cả. Có những điều cực kỳ quý giá mà dù cho bạn có giàu như thế nào đi chăng nữa cũng chẳng thể mu... 4 Cấp độ của kỷ luật – Chìa khóa cốt lõi để thành công Jim Rohn từng nói rằng "Chúng ta đều phải chịu đựng một trong hai nỗi đau. Đó là sự đau đớn của kỷ luật hay sự đau đớn của nỗi ân hận". Kỷ luật không phải là thứ gì đó quá khó để nắm bắt, mà nó có thể đạt được qua nhiều cấp độ khác nhau. Bài viết sau đây sẽ nói về 4 cấp độ của sự tự kỷ luật, thúc đ... 3 Cách giúp bạn khai phóng được tối đa tiềm năng bản thân Một vấn đề sẽ luôn tồn tại trong cuộc đời của bạn, đó là "Làm thế nào để khai phóng được tối đa tiềm năng của bản thân?". Khi tiềm năng được "đẩy ra" đến đâu thì giá trị của bạn sẽ tăng đến đó và ắt thành công sẽ đến với bạn. Sau đây những cách giúp bạn khai phóng được tiềm năng của mình. 1. Phát ... 5 Bước giúp bạn làm chủ công việc trái ngành học của mình Trong thời đại ngày nay, mỗi năm luôn có rất nhiều sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học với thành tích rất cao, nhưng để tìm kiếm được 1 công việc đúng với ngành mà mình đã học lại không phải điều dễ dàng. Tính cạnh tranh ngày càng cao khiến nhiều người trong số đó phải đi làm những côn... CEO là gì? Nhiệm vụ, quyền hạn của CEO là gì? CEO là gì? CEO là chức vụ điều hành cao nhất của một tổ chức, phụ trách tổng điều hành một tập đoàn, công ty, tổ chức hay một cơ quan. CEO phải báo cáo trước hội đồng quản trị của tổ chức đó. CEO là từ viết tắt của Chief Executive Officer. CEO là gì? CEO là một từ tiếng Anh viết tắt của Chief Exe...
Trong kỷ nguyên số, bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, tri thức là nhân tố không thể thiếu trong doanh nghiệp. Khi công nghệ ngày càng phát triển, khoảng cách giữa các doanh nghiệp sẽ càng rút ngắn, sự khác biệt đến từ khả năng đổi mới và tốc độ đến từ tri thức của tổ chức. Các cá nhân có sự chia sẻ, trau dồi kiến thức liên tục sẽ tạo ra những ý tưởng mới có giá trị cho doanh nghiệp. Theo Peter F. Drucker, nhà quản trị nổi tiếng, nhận định “Tài sản quý giá nhất của một công ty thế kỷ 20 là thiết bị sản xuất. Tài sản quý giá nhất của tổ chức thế kỷ 21, cho dù là kinh doanh hay phi kinh doanh, sẽ là tri thức, người lao động và năng suất của họ”. Môi trường kinh doanh thay đổi đòi hỏi doanh nghiệp cần có sự thay đổi. Xu hướng cho sự phát triển tương lai là doanh nghiệp trở thành trung tâm tri thức, nơi tạo không gian, nuôi dưỡng nâng cao năng lực, kiến thức của các cá nhân. Từ đó biến tri thức thành kết quả là sản phẩm/dịch vụ cung cấp giá trị vượt trội cho khách hàng, tạo ra hiệu quả kinh doanh, phát triển doanh nghiệp. XU HƯỚNG DOANH NGHIỆP TRỞ THÀNH TRUNG TÂM TRI THỨC Doanh nghiệp cần nhìn nhận rằng để tăng trưởng có được vị trí vững chắc trên thị trường thì bản thân cần là một trung tâm tri thức. Trung tâm tri thức có thể hiểu là doanh nghiệp tạo môi trường để các cá nhân phát triển kiến thức, năng lực, thúc đẩy họ chia sẻ và lưu giữ thông qua nền tảng công nghệ. Qua thời gian triển khai kiến thức sẽ liên tục được hoàn thiện, tái tạo. Đây là cách thức khiến đối thủ không thể bắt kịp, bởi nếu chỉ dựa vào công nghệ mới họ có thể đầu tư công nghệ còn tốt hơn. Chỉ khi đối thủ cố gắng bắt kịp trình độ tri thức, chiến lược, doanh nghiệp của bạn đã đang ở trình độ khác thì mới có thể ưu thế lớn. Tri thức tạo ra lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh thể hiện ở chất lượng nhân sự và giá trị của sản phẩm/dịch vụ. Các doanh nghiệp trong ngành thường xuyên cạnh tranh về nhân tài. Tổ chức tập trung vào tính tri thức sẽ điểm đến tiềm năng cho nhân sự, khi họ có cơ hội học hỏi và kiện toàn năng lực của mình. Phát triển năng lực diễn ra liên tục từ các hoạt động đào tạo cũng như không gian chia sẻ kiến thức giữa các thành viên. Ví dụ, trong một tình huống với khách hàng, nhân viên cũ chia sẻ những kinh nghiệm xử lý với nhân viên mới. Đặt trong tương quan so sánh, với một vấn đề/nhu cầu khách hàng, nhân sự doanh nghiệp nào xử lý tốt hơn, tạo cảm xúc khách hàng tích cực thì đã chiếm lợi thế trước đối thủ. Đặc thù nguồn nhân lực mới nhu cầu học hỏi và phát triển lớn, họ luôn tò mò trước vấn đề mới. Vì vậy, một tổ chức đề cao tính tri thức sẽ có lợi thế về thu hút nhân sự có năng lực. Chất lượng của sản phẩm dịch vụ sẽ phụ thuộc vào đánh giá của khách hàng. Do vậy, doanh nghiệp cần nắm bắt nhanh nhu cầu của họ và hoàn thiện sản phẩm nhanh chóng. Doanh nghiệp tập trung vào tính tri thức có khả năng đổi mới nhanh thông qua liên tục đề cao thử nghiệm, họ hỏi điều mới tạo ra giá trị vượt trội cho khách hàng. Ví dụ điển hình là trường hợp của Apple, họ mạnh về tri thức và nghiên cứu, sản phẩm iphone đưa ra với chất lượng vượt trội giải quyết nhu cầu khách hàng. Tri thức nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Doanh nghiệp tập trung trí thức tác động giảm chi phí, tăng doanh số bán hàng, lợi nhuận cao hơn, đảm bảo các điều khoản đề xuất nhất quán cho khách hàng. Ví dụ, các công ty dịch vụ tài chính hiện cung cấp các giao dịch dịch vụ qua Internet, và để giải quyết các vấn đề chung của khách hàng, họ tạo ra một nền tảng kiến thức; một kho lưu trữ trung tâm chứa các câu trả lời cho các câu hỏi thường gặp của người dùng nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng. Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả dựa trên nâng cao năng suất làm việc của các cá nhân. Năng suất được nâng cao khi năng lực của các cá nhân trong tổ chức được nâng cao. Điều đó thể hiện khi họ có đủ kiến thức để xử lý và hoàn thành công việc nhanh chóng và đảm bảo chất lượng. Một tổ chức có hệ thống quản trị tri thức tốt sẽ có tác động trực tiếp đến hiệu quả và năng suất hoạt động của nhân viên. Quản trị tri thức thúc đẩy chất lượng đào tạo Đào tạo là hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp, nhân viên cảm thấy họ là một phần của một cộng đồng đoàn kết và hỗ trợ. Quản trị tri thức tốt sẽ tối ưu chất lượng đào tạo mang lại ROI tỷ suất hoàn vốn khi đầu tư vào tạo. Sau mỗi hoạt động đào tạo thông qua việc quản trị tri thức tốt những tài liệu, kiến thức sẽ được lưu trữ lại. Nhân viên được tiếp cận dễ dàng với các tài liệu đào tạo trước đó để áp dụng vào thực tiễn công việc. Khi nhân sự mới gia nhập cũng có thể được đào tạo lại những kiến thức này từ các thành viên khác. Điều này sẽ giúp nhân sự làm việc năng suất và tự tin hơn, người truyền tải kiến thức sẽ hiểu rõ và ghi nhớ nội dung hơn Nền tảng quản lý tri thức được tổ chức tốt, dễ sử dụng là cần thiết để thúc đẩy sự hợp tác trong đào tạo và học tập. Hệ thống quản lý tri thức lớn trong tổ chức cho phép tất cả nhân viên phát triển năng lực liên tục thông qua chia sẻ giữa các thành viên và tái tạo kiến thức trải qua quá trình áp dụng vào thực tiễn. Với chương trình đào tạo doanh nghiệp đầu tư, thông qua quản trị tri thức tốt, kiến thức đó sẽ được nhân lên và được truyền tải lại cho nhiều nhân sự hơn nữa. 3 TRỤ CỘT PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TRONG KỶ NGUYÊN SỐ Trong kỷ nguyên số, doanh nghiệp hướng đến hoạt động hiệu quả có tính thức ứng cao với môi trường kinh doanh. Yêu cầu sống còn là doanh nghiệp cần hoàn thiện 3 trụ cột 01. Tổ chức truyền thông hướng đến kinh doanh hiệu quả, 02. Tổ chức tri thức gắn với kinh tế số. 03, Tổ chức xây dựng giá trị hướng đến con người, hạnh phúc nhân viên. Theo phương pháp tiếp cận truyền thống, doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực đội ngũ sẽ dựa vào bên ngoài để phát triển tri thức như các trường, đào tạo inhouse. Nhưng trước sự cạnh tranh và đòi hỏi trải nghiệm khách hàng cao, doanh nghiệp cần tự phát triển, sản xuất tri thức riêng mình tập trung hoàn thiện 3 trụ cột kể trên. 1. Tổ chức kinh doanh hiệu quả Doanh nghiệp ưu tiên hiệu quả kinh doanh và tính cạnh tranh thị trường. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp xây dựng chiến lược, văn hóa doanh nghiệp bài bản tạo dấu ấn thị trường. Chiến lược theo sát nhu cầu, nỗi đau của khách hàng, đặt trong mối tương quan với năng lực tổ chức. Mục đích là mang đến trải nghiệm vượt trội cho khách hàng và khác biệt với đối thủ. Trong bối cảnh biến động, chiến lược đòi hỏi tiếp cận mềm dẻo, linh hoạt, 70% tập trung thích ứng hiện tại, xây dựng mục tiêu chiến lược, 20% định hướng chiến lược tương lai 2 đến 3 năm, 10% chuẩn bị nguồn lực xây dựng cho dài hạn. Chiến lược luôn song hành với văn hóa trong phát triển kinh doanh. Ngay khi chiến lược được hoạch định rõ ràng, có sự đột phá nhưng đội ngũ không có sự gắn kết, không có sự giao tiếp tốt và cam kết với tổ chức cũng sẽ thất bại. Chiến lược đóng vai trò định hướng đường đi, văn hóa quyết định việc thực thi trong thực tế. Doanh nghiệp cần hướng đến xây dựng văn hóa đề cao sự hợp tác, trao quyền và sáng tạo cho đội ngũ, cũng như lấy khách hàng làm trung tâm để tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy triển khai chiến lược hiệu quả. Văn hóa là vấn đề về con người cần xuất phát từ tư duy, tầm nhìn lãnh đạo, truyền đạt đầy đủ tác động đội ngũ nhân sự. Thiếu một trong hai yếu tố chiến lược và văn hóa, doanh nghiệp khó để kinh doanh hiệu quả, hình thành lợi thế cạnh tranh. 2. Tổ chức tri thức Sự cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp xây dựng tổ chức với nền tảng là vốn tri thức vững vàng. Tri thức tổ chức là kết tinh của tài năng, kiến thức, kinh nghiệm của đội ngũ nhân sự trong công ty. Thông qua quá trình tích lũy, trao đổi, chia sẻ, doanh nghiệp lưu trữ lại và trải qua thời gian áp dụng sẽ tái tạo ra những tri thức mới, đột phá hơn, hiệu quả hơn. Ví dụ Nguyên lý phát triển sản phẩm và tính năng mới luôn được lưu giữ. Trải qua thời gian đưa ra thị trường, nhân sự tài năng có thể nắm bắt được, xác định những điểm chưa hiệu quả và xây dựng kế hoạch cải thiện bổ sung thêm để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ngay cả khi nhận sự mới vào cũng sẽ hiểu được về sản phẩm, cách thức vận hành. Đây là lợi thế của tổ chức tập trung, đề cao tính tri thức. Khi nhân sự cốt cán rời đi thì tri thức đó sẽ không mất đi, mà vẫn được lưu trữ và liên tục hoàn thiện qua các thế hệ nhân viên. Tổ chức tri thức sẽ có nét chung là nền văn hóa đề cao sự học hỏi và phát triển năng lực của các cá nhân. Công ty có lộ trình và khung chương trình đào tạo phát triển nhân sự hàng quý, hàng năm. Đồng thời, nhân sự được trao quyền, khuyến khích sáng tạo và thử nghiệm ý tưởng mới. Xây dựng nét văn hóa học tập này đòi hỏi tư duy cởi mở của lãnh đạo, đề cao yếu tố con người và tri thức cho đội ngũ, coi tri thức là trụ cột trong sản xuất và kinh doanh. Triết lý này cần được thể hiện nhất quán qua hành động và lời nói, đi cùng với chính sách, thể chế rõ ràng. Mỗi doanh nghiệp là trung tâm tri thức, tự sản xuất và tái tạo ra tri thức mới để liên tục làm mới mình, tốc độ đổi mới nhanh hơn đối thủ. Theo truyền thống, doanh nghiệp dựa vào bên ngoài để phát triển tri thức như các trường, đối tác đào tạo. Nhưng xu thế hiện tại doanh nghiệp cần tự mình phát triển tri thức bởi chỉ họ mới hiểu rõ được đặc thù kinh doanh, đặc điểm nhân sự, những thiếu sót cần cải thiện. 3. Tổ chức tập trung vào con người, xây dựng hạnh phúc nhân viên Theo nghiên cứu Happiness and Productivity của Đại học Warwick, khi nhân viên hạnh phúc và hài lòng với môi trường làm việc của mình,năng suất công việc tăng lên 12%. Với tư duy doanh nghiệp truyền thống, nhân sự là công cụ để sản xuất, tạo ra năng suất lao động, hoàn thiện sản phẩm. Đây là tư duy sản xuất từ thế kỷ trước, trong thế kỷ 21 hiện nay, nhân sự là chìa khóa tạo ra sức cạnh tranh và sự sáng tạo trong tổ chức. Doanh nghiệp đối mặt với tài toán cạnh tranh nhân tài, thu hút và giữ chân đội ngũ. Do vậy, mỗi tổ chức cần ưu tiên xây dựng hạnh phúc nhân viên, coi nhân viên như là khách hàng của doanh nghiệp. Sự hạnh phúc của nhân viên có liên kết chặt chẽ với các nhà lãnh đạo, khi họ xây dựng môi trường cởi mở, trao quyền, lắng nghe và phát huy năng lực của đội ngũ. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống đãi ngộ phù hợp với năng lực, nhu cầu, nguyện vọng của đội ngũ. Bộ phận nhân sự nắm được một số thước đo chính về sự gắn kết nhân sự, tỷ lệ giữ chân, sự hài lòng & cam kết cũng như hiệu suất của các cá nhân. Những thước đo này sẽ phản ánh sự hạnh phúc của đội ngũ. Nhân viên cảm thấy hạnh phúc không chỉ vì yếu tố lương thưởng mà còn là phúc lợi, đào tạo & phát triển, cân bằng công việc và cuộc sống. Do đó, doanh nghiệp nên hài hòa các yếu tố, xác định ưu tiên để phân bổ nguồn lực đầu tư nhiều hơn, nhưng cố gắng đảm bảo sự cân bằng. Bởi, ngay cả khi lương thưởng cao, nhưng nhân sự không được đào tạo và nâng cao năng lực thường xuyên thì họ cũng sẽ rời bỏ tổ chức. Doanh nghiệp thành công hiện nay đều cần dựa trên hệ sinh thái hợp tác với sự hiện diện của các đối tác trong các lĩnh vực hoạt động như sản xuất, phân phối, kinh doanh và đào tạo. Theo Báo cáo của Gartner, xu hướng đến năm 2025, tổ chức sẽ tăng cường sử dụng các dịch vụ tư vấn bên ngoài do tốc độ thay đổi ngày càng nhanh của thị trường. Doanh nghiệp nên có đối tác chiến lược về xây dựng tri thức để hướng đến mục tiêu phát triển, với trọng tâm là đội ngũ cộng tác, giàu chuyên môn, được đào tạo liên tục. OD CLICK sản xuất tri thức phù hợp với môi trường Việt Nam, tiệm cận với tri thức quốc tế. Công ty không hướng đến chia sẻ kinh nghiệm mà truyền đạt phương pháp tư duy mới để doanh nghiệp tự phát triển tri thức của riêng mình và áp dụng vào triển khai công việc. Các chương trình đào tạo xây dựng nội dung sát thực tiễn, căn cứ theo khảo sát nhu cầu người học. Báo cáo sau đào tạo sẽ cho doanh nghiệp bức tranh tổng quan về sự hiệu quả và định hướng bước phát triển nhân sự tiếp theo. Hoạt động tư vấn tập trung vào vấn đề chiến lược, văn hóa, tái tạo tổ chức. Mục tiêu đồng hành cùng ban lãnh đạo doanh nghiệp trên cơ sở đồng sáng tạo giải quyết vấn đề. Bản chất tư vấn đòi hỏi doanh nghiệp cần có sự cam kết và quản trị sự thay đổi hiệu quả. Công cụ, mô hình không thể phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp không thay đổi cách thức, thói quen làm việc. Nguồn tham khảo
Cạnh tranh bằng vốn tri thức minh họa Khều. TBKTSG – Trong doanh nghiệp, vốn tri thức intellectual capital thể hiện thông qua con người, cấu trúc tổ chức, tài sản tri thức intellectual assets và sở hữu trí tuệ intellectual properties. Việc hiểu và đo lường vốn tri thức sẽ giúp doanh nghiệp tìm kiếm, phát triển và duy trì lợi thế cạnh tranh. Vốn tri thức và tài sản tri thức Con người sở hữu tri thức của mình. Bản thân mỗi người là một nguồn vốn tri thức. Khi tham gia vào một doanh nghiệp, họ sẽ trở thành tài sản tri thức của doanh nghiệp. Nguồn vốn này có thực sự phát huy, trở thành một tài sản giá trị hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đôi khi nguồn vốn tri thức tốt chưa chắc đã trở thành một tài sản giá trị. Mỗi doanh nghiệp đều có vốn tri thức. Nguồn vốn này thể hiện ở bản quyền tác giả, kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm kinh doanh, cơ sở dữ liệu, lòng tin vào nhãn hiệu và sự tài tình của các nhà quản trị cấp cao. Vốn con người, một phần của vốn tri thức, cũng được xem là tài sản vô hình như những tài sản vô hình khác của doanh nghiệp như uy tín, hình ảnh và nhãn hiệu. Những tài sản vô hình này cùng với các tài sản hữu hình khác như tiền và hữu sản trong doanh nghiệp hình thành nên thị giá của tổ chức kinh doanh. Kinh nghiệm, kỹ năng và trình độ của nhân viên tạo nên vốn con người trong tổ chức. Nguồn vốn này được tiếp thu, tích lũy và chuyển giao qua thời gian, tạo nền tảng vững chắc cho tổ chức phát triển. Tài sản vô hình như tài liệu sản xuất, cấu trúc tổ chức hình thành vốn cấu trúc. Nguồn vốn này là hạ tầng hỗ trợ cho vốn con người, đồng thời động viên nhân lực tạo ra và phát triển tri thức. Những biểu hiện cụ thể của kiến thức có thể sở hữu và trao đổi kinh doanh được gọi là tài sản tri thức. Nếu tài sản tri thức được pháp luật bảo chứng sẽ trở thành sở hữu trí tuệ. Có năm loại sở hữu trí tuệ là bản quyền patents, tác quyền copyrights, thương quyền trademarks, bí mật thương mại trade secrets, và bí quyết know-how. Tuy nhiên, doanh nghiệp thường khó lượng hóa hay vốn hóa những cơ hội do vốn tri thức tạo ra bởi vì chưa có phương pháp nhận dạng và đo lường những tài sản tri thức mà doanh nghiệp đang sở hữu. Những khía cạnh khác của vốn tri thức bao gồm các yếu tố như các quan hệ kinh doanh với đối tác, sự trung thành của khách hàng, kiến thức và năng lực của nhân viên. Lợi ích của việc đầu tư vào các kỹ năng cho nhân viên cũng giống như lợi ích từ việc đầu tư vào những tích sản khác. Nhưng sự so sánh này có giới hạn bởi doanh nghiệp có thể sở hữu tích sản nhưng khó có thể sở hữu con người. Những cách ghi chép kế toán truyền thống không thể hiện được sự khác biệt giữa giá trị sổ sách và thị giá doanh nghiệp. Đó chính là giá trị tạo ra của tài sản tri thức. Có một khoảng cách lớn giữa giá trị của doanh nghiệp trên bảng cân đối tài khoản và đánh giá của nhà đầu tư về những giá trị này. Trong hầu hết các doanh nghiệp hiện nay, sự đánh giá của thị trường chủ yếu thể hiện ở nhãn hiệu brand nhưng chưa thấy được vốn tri thức trong đó. Lịch sử kinh doanh cho thấy rằng những khoản đầu tư lớn vào vốn con người là công cụ chính tạo ra giá trị nhưng thường lại không thể hiện trên bảng cân đối tài sản. Những giá trị của tài sản tri thức như bản quyền tác giả hay thương quyền lại không được đánh giá vì giá trị của những tài sản này chỉ có thể sử dụng trong tương lai nhưng lại được ghi nhận là chi phí. Nếu không được tận dụng và áp dụng triệt để, tài sản tri thức không tạo ra giá trị gia tăng. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể nào quản lý tri thức nếu không biết nhận dạng và sử dụng loại tài sản này. Sử dụng vốn tri thức Vốn con người là một trong những yếu tố chính của thị giá doanh nghiệp, đồng thời giá trị này cũng nên được thể hiện trong tài khoản doanh nghiệp để nhà đầu tư hay những ai quan tâm thấy được tổng giá trị của doanh nghiệp. Trong đó cần làm nổi bật tài sản vô hình và tài sản hữu hình. Quá trình xác định các đại lượng cũng như thu thập và phân tích thông tin liên quan đến những đại lượng này sẽ giúp doanh nghiệp nhận thấy cần phải làm gì để tìm kiếm, lưu giữ, phát triển và tận dụng hiệu quả nguồn vốn con người. Đo lường giá trị nguồn vốn con người có thể dùng làm cơ sở cho các chiến lược nhân sự liên quan đến phát triển các năng lực cốt lõi của tổ chức. Những đại lượng này có thể được dùng để kiểm soát quá trình tiến bộ trong việc thực thi và đạt các mục tiêu nguồn nhân lực và đánh giá thành quả trong công tác quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Đặc biệt là làm cơ sở cho vấn đề đào tạo, đãi ngộ và khen thưởng. Tuy nhiên, rất khó có thể đặt các con số vào các giá trị tài sản con người bởi những giá trị như vậy phải dựa trên những giả thiết mà không phải ai cũng chấp nhận. Ngoài ra, độ tin cậy của các đại lượng đó không được kiểm chứng bằng những biện pháp đảm bảo. Các chuẩn mực kế toán truyền thống chưa có các hướng dẫn về cách ghi chép giá trị của các tài sản này. Tài sản vô hình có thể ở dạng như bản quyền, uy tín, chi phí nghiên cứu và phát triển nhưng lại không đề cập đến kiến thức của nhân viên, những thành quả xuất sắc đã đạt được, những khoản đầu tư cho đào tạo. Rất khó có thể định giá trị của vốn con người nhưng sự mất mát của vốn con người cũng tốn kém không ít. Các báo cáo tài chính không cho thấy được sự mất mát vốn con người, nhưng những tác động của sự kiện này có thể thấy được. Nghiên cứu của KPMG 1999 cho thấy rằng sau khi mất đi những nhân viên chủ chốt, 43% các tổ chức gặp phải những thiệt hại liên quan đến quan hệ của khách hàng, 50% cho rằng mất đi những thông tin quan trọng, và 10% cho rằng thu nhập của doanh nghiệp giảm đáng kể. Để tính giá trị của vốn tri thức, các nghiên cứu cho rằng đối với những công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán, giá trị của vốn tri thức là sự khác biệt giữa thị giá và giá trị sổ sách của doanh nghiệp. Mặt khác, chi phí để quản lý những tri thức này cũng không nhỏ và cũng khó đo lường. Vì không thể định nghĩa rõ chi phí của quản lý tri thức, các doanh nghiệp khó có thể tính toán hiệu ứng trên các bảng báo cáo tài chính. Sự khác biệt giữa vốn tri thức và vốn tài chính thể hiện ở một điểm vốn tài chính phản ánh sự tiến bộ và thành tựu trong quá khứ, vốn tri thức phản ánh chính xác hơn sự tăng trưởng và thành quả trong tương lai. Vấn đề của doanh nghiệp là làm thế nào để tạo ra, duy trì và phát triển nguồn vốn tri thức. Giá trị của nguồn vốn có thể tăng lên do đầu tư và ứng dụng, nhưng để những giá trị này thực sự có giá trị thì cần có môi trường vận dụng. Đối với doanh nghiệp, công việc sẽ phức tạp hơn, vừa phải huy động, phát triển và sử dụng nguồn lực để tạo ra phần lưu của nguồn vốn. Giá trị có thực sự tạo ra hay không còn phụ thuộc vào sự phát triển bền vững của nguồn vốn. Hơn thế nữa, nguồn vốn này cũng dễ dàng mất vào tay đối thủ, vì vậy cần quản lý nguồn vốn này một cách cẩn trọng. Với bản thân nhân viên, họ có thể tự đào tạo hoặc nhận sự đào tạo của tổ chức để cải tiến phần trữ vốn của mình, nhưng cũng cần có môi trường để tạo ra giá trị thực. Đối với từng nhân viên, họ có quyền kỳ vọng sẽ thu lợi từ việc đầu tư thời gian và nỗ lực trong tổ chức dưới hình thức phát triển kỹ năng và khả năng; họ sẽ có cơ hội để tăng khả năng có được việc làm ngay cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp. Việc này đồng nghĩa với giá trị nguồn vốn có thể thay đổi khi được sử dụng ở các môi trường khác nhau. ———- * Giám đốc chương trình Maastricht MBA, Đại học Bách khoa TPHCM
Có nhiều định nghĩa về tri thức, theo Becerra – Fernandez & ctg 2004, Tri thức là “sự giải mã về một mối quan hệ giữa các khái niệm có liên quan đến những lĩnh vực cụ thể, Tri thức là tài sản vô giá và là nền tảng lợi thế cạnh tranh của một tổ chức Bock & ctg 2005. Với Davenport và Prusak 1998 cho rằng tri thức là tập hợp kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo hoàn cảnh và sự hiểu biết sâu sắc để cung cấp mô hình đánh giá, kết hợp tạo ra kinh nghiệm và thông tin mới. Họ cho rằng tri thức bắt nguồn và được áp dụng ngay trong tâm trí của con người. Trong các tổ chức, tri thức không chỉ xuất hiện trong các tài liệu mà còn trong thói quen, quá trình làm việc, thực tiễn và các chuẩn mực của tổ chức. Thêm vào đó, tri thức là việc sử dụng đầy đủ các thông tin và dữ liệu kết hợp cùng với những kỹ năng, ý tưởng, trực giác, cam kết và động lực của con người. Theo Nonaka và Takeuchi 1995 định nghĩa tri thức “là tiến trình năng động của con người để chứng minh niềm tin cá nhân về cái mình cho là chân lý. Sự tiến hóa của nhận thức luận khoa học đã hình thành cáu trúc thứ bậc từ dữ liệu => thông tin => tri thức, tăng dần theo 2 chiều hướng sự hiểu biết, và sự độc lập với ngữ cảnh Serban& ctg, 2002.Dữ liệu là tập hợp các sự kiện, sự việc khách quan, rời rạc được trình bày mà không có sự phán quyết hoặc không gắn với bối liệu trở thành thông tin khi nó được phân loại, phân tích, tổng hợp và đặt vào một bối cảnh, và trở nên có thể nhận thức được đối với người tin là dữ liệu gắn với một sự liên hệ hoặc một mục đích và biến thành tri thức khi nó được sử dụng để so sánh, đánh giá những kết cục, thiết lập những liên hệ và tiến hành một sự đối thoại. Thông tin là dữ liệu trong bối cảnh có thể sử dụng cho việc ta quyết định. Dữ liệu luôn được sắp xếp để tạo ra ý nghĩa cho người nhận, có thể là văn bản, hình ảnh, đoạn phim, hoặc cuộc hội thoại với người khác. Gurteen 1999 cho rằng tri thức là sản phẩm vô hình, bao gồm ý tưởng, quá trình, thông tin và ngày càng được chia sẻ trong nền kinh tế toàn cầu theo nhiều hình thức khác nhau và là sản phẩm vô hình của nên kinh tế sản xuất Tri thức có thể được xem như thông tin mà nó đạt tới sự sáng tỏ, sự phán quyết và những giá trị. Trong nhiều trường hợp, tri thức thể hiện sự thật, vì vậy nó cung cấp, tạo ra những cơ sở đáng tin cậy cho hành động. Tri thức là kho tàng của sựhiểu biết và các kỹ năng được tạo ra từ trí tuệ của con người đặc biệt từ những người khác. Tri thức thường bị nhầm lẫn với thông tin nhưng thực chất tri thức và thông tin là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Grey, 2007. Thông tin tập hợp các dữ liệu cho mục đích xác định rõ ràng trong khi tri thức được xem là một quá trình, động lực, khả năng và chia sẻ sự hiểu biết. Trong thực tế, con người có thể dễ dàng chia sẻ thông tin nhưng rất khó để chia sẻ tri thức đến người khác. Tri thức là tài sản bên trong của con người, phụ thuộc vào hoàn cảnh nên hoàn toàn khác với thông tin hay dữ liệu chúng ta có. Malhotra 2000 cho rằng có sự nhầm lẫn giữa tri thức và thông tin dẫn đến các nhà quản lý đã tiêu tốn rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc vào việc đầu tư hệ thống công nghệ thông tin CÁ NHÂN TRI THỨC nhưng không mang lại kết quả như mong đợi. Tri thức được xác định rất rõ là tài sản bên trong của con người và được sử dụng để phản ứng khi có vấn đề xảy ra. Nói một cách khác, tri thức là sự tổng hợp thông tin, dữ liệu và kinh nghiệm. Jain và các công sự 2007 cho rằng tri thức là nguồn lực đầu vào quan trọng trong hầu hết các tổ chức vì nó cho phép các tổ chức phát triển và tạo ra các lợi thế cạnh tranh của mình, trong khi Hsu 2006 nhấn mạnh tri thức giúp tổ chức đánh giá nhân viên, giúp nhân viên thực hiện công việc và tạo ra lợi thế cạnh tranh cuối cùng của tổ chức. Do đó, việc quản lý, khai thác sử dụng tri thức có hiệu quả giúp tổ chức có thể duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh và là yếu tố quan trọng đối với sự thành công của một tổ Martensson 2000 khẳng định tri thức là nhân tố cơ bản, giúp tổ chức tạo ra các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo với định nghĩa phổ biến nhất của tri thức là “những ý tưởng hay sự hiểu biết được một cá nhân sở hữu sử dụng để thực hiện các hành động hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức”. Theo Zack 1999, phần lớn tri thức trong các tổ chức là ẩn đi nên rất khó kết nối với nhau. Do tri thức luôn nằm trong bộ não của cá nhân, bao gồm rất nhiều kỹ năng nhận thức như niềm tin, hình ảnh, trực giác và kỹ năng, không phải tài liệu, chứng từ nên rất khó để diễn giải hoặc mô tả một cách rõ ràng. Drucker 1994 cho rằng tri thức là nguồn lực chính cho mỗi cá nhân nói riêng và cho tổ chức nói chung. Tri thức được xem là nguồn tài nguyên khó sao chép, đánh giá và lựa chọn nhưng mang đến cho người sở hữu nó loại “hàng hóa” độc đáo và duy nhất. Điều đó cho thấy tri thức khác với con người, tiền bạc, máy móc hay vật liệu vì tri thức rất khó nhân rộng và cũng rất khó để xây dựng các chiến lược thay thế. Trong nền kinh tế tri thức, không phải đất đai hay máy móc là tài sản chính, tri thức, chuyên môn và sự đổi mới thật sự là tài sản mang lại lợi nhuận cao và nâng cao lợi thế cạnh tranh của tổ chức vì thế tri thức phải được quản lý một cách hiệu quả chức. Nguyễn Thị Thảo
Kinh tế tri thức là hệ thống kinh tế trong đó sản xuất hàng hóa và dịch vụ chủ yếu dựa trên các hoạt động sử dụng tri thức nhằm góp phần thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật và khoa học. Đặc điểm của nền kinh tế tri thức? Sự phát triển của nền kinh tế tri thức?Nền kinh tế tri thức có lực lượng lao động có kỹ năng cao trong môi trường kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô; các tổ chức và ngành công nghiệp tạo ra việc làm đòi hỏi các kỹ năng chuyên biệt để đáp ứng nhu cầu thị trường toàn cầu. Tri thức được xem như một đầu vào bổ sung cho lao động và vốn. Về nguyên tắc, vốn cá nhân cơ bản của một người là kiến thức cùng với khả năng thực hiện để tạo ra giá trị kinh tế. Nền kinh tế tri thức hay nền kinh tế dựa trên tri thức là hệ thống kinh tế trong đó sản xuất hàng hóa và dịch vụ chủ yếu dựa trên các hoạt động sử dụng tri thức nhằm góp phần thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật và khoa học. Yếu tố quan trọng của giá trị là sự phụ thuộc nhiều hơn vào vốn con người và tài sản trí tuệ đối với nguồn cung cấp các ý tưởng, thông tin và thực tiễn đổi mới. Các tổ chức được yêu cầu phải tận dụng “kiến thức” này vào sản xuất của mình để kích thích và làm sâu sắc thêm quá trình phát triển kinh doanh. Ít phụ thuộc hơn vào đầu vào vật chất và tài nguyên thiên nhiên. Nền kinh tế dựa trên tri thức dựa vào vai trò quan trọng của tài sản vô hình trong môi trường của các tổ chức trong việc tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hiện đại. Trong nền kinh tế tri thức, các công việc đòi hỏi tay nghề cao đòi hỏi kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng quan hệ xuất sắc như giải quyết vấn đề, khả năng linh hoạt giao tiếp với nhiều lĩnh vực chuyên ngành cũng như khả năng thích ứng với những thay đổi trái ngược với việc di chuyển hoặc chế tạo các vật thể vật chất trong sản xuất thông thường- các nền kinh tế dựa trên. Nền kinh tế tri thức trái ngược với nền kinh tế nông nghiệp, trong đó hoạt động kinh tế chủ yếu là canh tác tự cung tự cấp, trong đó yêu cầu chính là lao động chân tay hoặc nền kinh tế công nghiệp hóa có sản xuất hàng loạt, trong đó phần lớn lao động tương đối phổ thông. Nền kinh tế tri thức nhấn mạnh tầm quan trọng của kỹ năng trong nền kinh tế dịch vụ, giai đoạn thứ ba của quá trình phát triển kinh tế, còn được gọi là nền kinh tế hậu công nghiệp. Nó liên quan đến nền kinh tế thông tin, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của thông tin như vốn phi vật chất và nền kinh tế kỹ thuật số, nhấn mạnh mức độ mà công nghệ thông tin tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại. Đối với các công ty, tài sản trí tuệ như bí mật thương mại, tài liệu có bản quyền và các quy trình được cấp bằng sáng chế trở nên có giá trị hơn trong nền kinh tế tri thức so với các thời đại trước đây. Kinh tế tri thức tiếng Anh là Knowledge – BasedEconomy. 2. Đặc điểm của nền kinh tế tri thức + Nền kinh tế dựa trên tri thức và vốn con người Một hệ thống kinh tế không dựa trên tri thức được coi là không thể tưởng tượng được. Nó mô tả quá trình tiêu dùng và các hoạt động sản xuất được thoả mãn từ việc áp dụng chuyên môn của người lao động – vốn tri thức và thường thể hiện mức độ đáng kể của các hoạt động kinh tế cá thể trong các nền kinh tế phát triển hiện đại thông qua việc xây dựng một nền kinh tế toàn cầu tiên tiến và kết nối với nhau, nơi các nguồn tri thức là những người đóng góp quan trọng. Khái niệm hiện tại cho “kiến thức” có nguồn gốc từ các nghiên cứu lịch sử và triết học của Gilbert Ryle và Israel Scheffler, những người đã tiến hành kiến thức đến các thuật ngữ “kiến thức thủ tục” và “kiến thức khái niệm” và xác định hai loại kỹ năng “năng lực hoặc cơ sở thường xuyên” và “kỹ năng quan trọng” đó là hiệu suất thông minh; và nó được xây dựng thêm bởi Lundvall và Johnson, người đã định nghĩa “kiến thức” về mặt kinh tế làm nổi bật bốn phạm trù lớn + Lực lượng lao động có trình độ và kỹ năng Sự hình thành của nền kinh tế tri thức mạnh mẽ đòi hỏi người lao động phải có khả năng liên tục học hỏi và áp dụng các kỹ năng của họ để xây dựng và thực hành kiến thức một cách hiệu quả. + Cơ sở hạ tầng thông tin dày đặc và hiện đại là khả năng tiếp cận dễ dàng với các nguồn lực công nghệ thông tin và truyền thông ICT nhằm vượt qua rào cản về chi phí giao dịch cao và tạo điều kiện hiệu quả trong việc tương tác, phổ biến và xử lý các nguồn thông tin và tri thức. + Hệ thống đổi mới hiệu quả mức độ đổi mới lớn trong các công ty, ngành và quốc gia để theo kịp với công nghệ toàn cầu mới nhất và trí tuệ con người để sử dụng nó cho nền kinh tế trong nước. + Chế độ thể chế hỗ trợ khuyến khích tinh thần kinh doanh và sử dụng tri thức Một hệ thống nền kinh tế cần cung cấp các biện pháp khuyến khích để cho phép huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, đồng thời khuyến khích tinh thần kinh doanh. + Sự tiến bộ của nền kinh tế dựa trên tri thức xảy ra khi các nền kinh tế toàn cầu thúc đẩy những thay đổi trong sản xuất vật chất, cùng với sự ra đời của các cơ chế lý thuyết kinh tế phong phú sau chiến tranh thế giới thứ hai có xu hướng tích hợp khoa học, công nghệ và kinh tế. Peter Drucker đã thảo luận về nền kinh tế tri thức trong cuốn sách – Người điều hành hiệu quả năm 1966, nơi ông mô tả sự khác biệt giữa người lao động chân tay và người lao động tri thức. Người lao động chân tay là người lao động bằng chính đôi tay của họ và sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ. Ngược lại, nhân viên tri thức làm việc bằng đầu chứ không phải bằng tay và tạo ra ý tưởng, kiến thức cũng như thông tin. Các định nghĩa xung quanh “tri thức” được coi là mơ hồ trong điều kiện chính thức hóa và mô hình hóa nền kinh tế tri thức, vì nó là một khái niệm tương đối. Ví dụ, không có đủ bằng chứng và cân nhắc về việc liệu “xã hội thông tin” có thể phục vụ hoặc hoạt động như một “xã hội tri thức” thay thế cho nhau hay không. Thông tin nói chung, không tương đương với kiến thức. Việc sử dụng chúng phụ thuộc vào sở thích cá nhân và nhóm “phụ thuộc vào nền kinh tế”. Thông tin và kiến thức cùng là nguồn lực sản xuất có thể tồn tại mà không cần tương tác với các nguồn khác. Các tài nguyên có tính độc lập cao với nhau theo nghĩa là nếu chúng kết nối với các nguồn lực có thể sử dụng được, chúng chuyển thành các yếu tố sản xuất ngay lập tức; và các yếu tố sản xuất hiện diện chỉ để tương tác với các yếu tố khác. Khi đó, tri thức gắn liền với thông tin trí tuệ được cho là một yếu tố sản xuất trong nền kinh tế mới được phân biệt với các yếu tố sản xuất truyền thống. 3. Sự phát triển của nền kinh tế tri thức Ngay từ những ngày đầu của các nghiên cứu kinh tế, mặc dù các nhà kinh tế đã nhận ra mối liên hệ thiết yếu giữa tri thức và tăng trưởng kinh tế, nhưng nó vẫn chỉ được coi là một yếu tố bổ sung trong các yếu tố kinh tế. Ý tưởng đằng sau đã thay đổi trong những năm gần đây khi lý thuyết tăng trưởng mới ca ngợi kiến thức và công nghệ trong việc nâng cao năng suất và tiến bộ kinh tế. Cho đến nay, xã hội phát triển đã chuyển đổi từ nền kinh tế dựa vào nông nghiệp, tức là thời kỳ tiền công nghiệp, nơi nền kinh tế và của cải chủ yếu dựa vào nông nghiệp, sang nền kinh tế công nghiệp nơi khu vực sản xuất đang bùng nổ. Vào giữa những năm 1900, các nền kinh tế thế giới hướng tới một hệ thống hậu công nghiệp hoặc sản xuất hàng loạt, trong đó nó được thúc đẩy bởi lĩnh vực dịch vụ tạo ra của cải lớn hơn so với công nghiệp sản xuất; đến cuối những năm 1900 – 2000, kinh tế tri thức nổi lên với điểm nổi bật là sức mạnh của tri thức và khu vực vốn nhân lực, được đánh dấu là giai đoạn phát triển mới nhất của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu. Trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, nền kinh tế tri thức đã trở nên gắn liền với các lĩnh vực dựa trên các ngành công nghiệp công nghệ cao và chuyên sâu về nghiên cứu do nhu cầu tăng đều đặn về các đổi mới dựa trên khoa học tinh vi. Nền kinh tế tri thức hoạt động khác với quá khứ vì nó được xác định bởi những biến động đôi khi được gọi là cuộc cách mạng tri thức trong các đổi mới công nghệ và nhu cầu cạnh tranh toàn cầu về sự khác biệt với hàng hóa và dịch vụ mới, và các quá trình phát triển từ cộng đồng nghiên cứu tức là, Yếu tố R&D, trường đại học, phòng thí nghiệm, viện giáo dục. Thomas A. Stewart chỉ ra rằng cũng giống như cuộc cách mạng công nghiệp không chấm dứt nông nghiệp vì mọi người phải ăn, thì cuộc cách mạng tri thức khó có thể kết thúc ngành công nghiệp vì xã hội vẫn còn nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ vật chất. – Các ví dụ trên toàn thế giới về nền kinh tế tri thức đang diễn ra trong số nhiều người khác bao gồm Thung lũng Silicon, Hoa Kỳ; kỹ thuật hàng không và ô tô ở Munich, Đức; công nghệ sinh học ở Hyderabad, Ấn Độ; điện tử và phương tiện kỹ thuật số ở Seoul, Hàn Quốc; công nghiệp hóa dầu và năng lượng ở Brazil. Nhiều thành phố và khu vực khác cố gắng tuân theo mô hình phát triển dựa trên tri thức và nâng cao cơ sở tri thức của họ bằng cách đầu tư vào các cơ sở giáo dục đại học và nghiên cứu nhằm thu hút lao động có kỹ năng cao và nâng cao vị thế của mình trong cuộc cạnh tranh toàn cầu. Tuy nhiên, bất chấp các công cụ kỹ thuật số dân chủ hóa việc tiếp cận tri thức, nghiên cứu cho thấy rằng các hoạt động kinh tế tri thức vẫn tập trung như mọi khi trong các lõi kinh tế truyền thống. Sự phát triển kinh tế hiện tại và trong tương lai sẽ bị chi phối nhiều bởi công nghệ và sự mở rộng mạng lưới, đặc biệt là về tinh thần kinh doanh xã hội dựa trên tri thức và tinh thần kinh doanh nói chung. Nền kinh tế tri thức đang kết hợp với nền kinh tế mạng, trong đó tri thức được bản địa hóa tương đối hiện đang được chia sẻ giữa các mạng khác nhau vì lợi ích của toàn bộ các thành viên mạng, để đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô ở quy mô rộng hơn, cởi mở hơn.
kinh doanh tri thức